Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Truy xuất nguồn gốc, ‘hạ tầng mềm’ của xuất khẩu nông sản

Việc số hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói và chuỗi cung ứng là giải pháp then chốt để nâng năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc.

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc tăng mạnh

Trung Quốc hiện là thị trường nhập khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đạt 70 tỷ USD thì riêng thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 25%.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã được đưa vào vận hành thí điểm, trước mắt với mặt hàng sầu riêng. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã được đưa vào vận hành thí điểm, trước mắt với mặt hàng sầu riêng. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Trung Quốc như thủy sản, rau quả, hạt điều, sắn, cao su, gỗ đều đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Trong đó, trái cây tiếp tục là nhóm ngành tăng trưởng nhanh sau khi nhiều nghị định thư xuất khẩu chính ngạch được ký kết.

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thị trường Trung Quốc chiếm 21,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng tới 28,8% so với cùng kỳ năm 2025, trở thành thị trường tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm đối tác lớn.

Đến nay, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hơn 20 thỏa thuận, nghị định thư liên quan đến xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Riêng nhóm trái cây có khoảng 10 loại được xuất khẩu chính ngạch.

Một số sản phẩm ghi nhận mức tăng trưởng bùng nổ sau khi ký nghị định thư, tiêu biểu là sầu riêng. Từ năm 2024 đến nay, nhiều mặt hàng tiếp tục được mở cửa chính ngạch như sầu riêng đông lạnh, dừa tươi, ớt, tổ yến, cám gạo, mít…, cho thấy xu hướng chuyển mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch ngày càng rõ nét.

Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng cửa thị trường, yêu cầu quản lý cũng ngày càng chặt chẽ hơn. Truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và minh bạch dữ liệu đang trở thành điều kiện bắt buộc nếu muốn duy trì xuất khẩu ổn định.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã được đưa vào vận hành thí điểm, trước mắt với mặt hàng sầu riêng và đang tiếp tục mở rộng sang nhiều ngành hàng khác.

Tính đến ngày 25/5/2026, hệ thống đã tích hợp 1.396 dòng dữ liệu của 112 sản phẩm, kết nối 17.987 cơ sở sản xuất tại 14 tỉnh, thành phố. Trong hệ thống hiện có 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 919 lô hàng tham gia thông qua 4 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ.

Kết quả thí điểm cho thấy mô hình quản lý theo chuỗi, dựa trên dữ liệu số đã tạo chuyển biến rõ rệt. Thời gian xử lý một lô hàng sầu riêng từ thu hoạch, đóng gói, vận chuyển đến thông quan được rút xuống còn 6 ngày, thay vì 8 - 11 ngày như trước đây, thậm chí có trường hợp kéo dài tới 21 ngày.

Khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm, dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực với sự tham gia của doanh nghiệp xuất khẩu, nông hộ, đơn vị công nghệ và cơ quan quản lý.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả này cho thấy chuỗi cung ứng nông sản đang từng bước chuyển từ mô hình vận hành rời rạc sang quản trị có hệ thống, minh bạch và kiểm soát bằng dữ liệu.

Tuy vậy, quá trình triển khai vẫn còn nhiều hạn chế như mức độ tham gia chưa đồng đều, dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa; hạ tầng kỹ thuật và cơ chế kết nối dữ liệu chưa hoàn thiện. Nguồn lực đầu tư hiện chủ yếu dựa vào doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ, gây khó khăn cho việc mở rộng trên quy mô toàn quốc.

Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ cho rằng cần làm rõ trách nhiệm của địa phương trong từng khâu, đặc biệt là việc nhập liệu, cập nhật và xác thực thông tin trên hệ thống. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi triển khai để nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện có thể tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Đồng quan điểm, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhấn mạnh vai trò của quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và quy trình sản xuất - những mắt xích quyết định tính hợp lệ của dữ liệu truy xuất.

Theo ông Đạt, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với yêu cầu từng thị trường, tăng cường phối hợp với địa phương trong cấp mã số vùng trồng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu bắt buộc

Tại cuộc họp nghe báo cáo về tình hình triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ quản lý sản xuất, xuất khẩu và minh bạch hóa thông tin chuỗi cung ứng nông sản, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng khẳng định, truy xuất nguồn gốc không chỉ nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục mà cốt lõi là kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và minh bạch chuỗi cung ứng.

Theo Thứ trưởng, việc triển khai cần gắn với tái tổ chức sản xuất theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu làm nền tảng quản trị. Trong đó, ba yếu tố then chốt gồm quy hoạch vùng nguyên liệu, quản lý mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc phải được triển khai đồng bộ.

“Truy xuất nguồn gốc cần được xác định là công cụ quản lý hiệu quả, giúp cơ quan chức năng chủ động nắm bắt thông tin, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu”, Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số như GIS, QR code, nhật ký điện tử, blockchain hay IoT nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm gian lận thương mại và tăng hiệu quả quản lý.

Trước đó, ngày 23/5, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đã gửi công hàm tới Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), thông tin về việc Việt Nam xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Theo Bộ trưởng, hệ thống này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi sản xuất, đóng gói, vận chuyển và bảo đảm chất lượng hàng hóa xuất khẩu. Việt Nam cũng đã gửi kèm các mẫu tem nhận diện truy xuất nguồn gốc để phía Trung Quốc phối hợp quản lý.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng siết chặt yêu cầu kỹ thuật và minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc không còn là giải pháp khuyến khích mà đang trở thành “tấm vé” bắt buộc để nông sản Việt Nam duy trì xuất khẩu chính ngạch và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho hay, việc kết nối dữ liệu với gần 18.000 cơ sở sản xuất và sự tham gia của hàng trăm doanh nghiệp, nông hộ, vùng trồng cho thấy hệ thống đang được triển khai thực chất, hướng tới quản trị chuỗi cung ứng minh bạch, kiểm soát chất lượng và mở rộng trên quy mô toàn quốc.

Nguyễn Hạnh
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy