Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đồng bằng sông Hồng ‘thử sức’ với lúa phát thải thấp

Không chỉ giúp nông dân giảm chi phí, các mô hình lúa phát thải thấp còn tạo nền tảng cho ngành lúa gạo Việt Nam thích ứng với xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới.

Ruộng lúa thưa nhưng bông dài, hạt chắc

Giữa tháng 6/2026, tại xã Tân An (TP. Hải Phòng), trên những thửa ruộng tham gia mô hình lúa canh tác phát thải thấp được triển khai trong khuôn khổ Dự án Sử dụng phân bón đúng (Fertilize Right) với sự hỗ trợ kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) nhằm thúc đẩy sử dụng phân bón hiệu quả, tăng cường cơ giới hóa và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững và phát thải thấp của Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nông dân địa phương.

Ruộng lúa không dày đặc, hàng lúa thẳng, khoảng cách giữa các khóm rộng hơn, nhưng bù lại cây sinh trưởng đồng đều, thân cứng, bông dài và tỷ lệ hạt chắc cao. Đây cũng là điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa mô hình và diện tích sản xuất truyền thống.

Nhiều nông dân không giấu được sự tò mò khi liên tục cúi xuống quan sát từng khóm lúa, bóc hạt và so sánh với ruộng canh tác theo cách cũ. Ảnh: Phương Nam

Nhiều nông dân không giấu được sự tò mò khi liên tục cúi xuống quan sát từng khóm lúa, bóc hạt và so sánh với ruộng canh tác theo cách cũ. Ảnh: Phương Nam

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) cho biết, việc gieo sạ cơ giới kết hợp vùi phân ngay từ đầu vụ giúp giải quyết đồng thời nhiều vấn đề của sản xuất lúa hiện nay như thiếu lao động nông thôn, thất thoát phân bón do rửa trôi và phát thải khí nhà kính từ đồng ruộng.

Những con số thu được sau hơn 100 ngày triển khai mô hình cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tại Hải Phòng, mô hình của Hợp tác xã Hữu Trung đạt năng suất 7,62 tấn/ha, tăng khoảng 25% so với diện tích đối chứng. Lợi nhuận đạt 24,4 triệu đồng/ha, cao gấp hơn 6 lần phương thức cấy máy truyền thống. Tại Hưng Yên, năng suất tăng khoảng 30%, lợi nhuận đạt 19,2 triệu đồng/ha. Ở Ninh Bình, năng suất tăng 28%, trong khi nhiều ruộng sản xuất theo phương thức cũ ghi nhận hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ.

Theo kết quả tổng hợp, lượng giống sử dụng giảm hơn 30%; phân đạm giảm từ 34 - 44%; phân lân giảm từ 34 - 66%; kali giảm từ 33 - 39%; tổng chi phí sản xuất giảm trên 25%. Đó là những con số khiến nhiều nông dân thay đổi cách nhìn về mô hình canh tác mới.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Thanh Hương, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp thôn Hữu Dụng (xã Tân An) cho biết, hợp tác xã hiện quản lý hơn 163 ha đất sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, vụ xuân vừa qua mới chỉ có hơn 2 ha được đưa vào thí điểm mô hình. Dù diện tích còn nhỏ, kết quả bước đầu khiến cả hợp tác xã bất ngờ.

Theo ông Hương, chỉ sau vài ngày gieo sạ, cây lúa trong mô hình đã phát triển nhanh và đồng đều hơn diện tích canh tác truyền thống. Đến giai đoạn cuối vụ, năng suất dự kiến tiếp tục cao hơn rõ rệt. Không chỉ tăng năng suất, mô hình còn giúp giảm đáng kể công lao động. “Nông dân chỉ cần gieo sạ trực tiếp một lần, không phải làm mạ, nhổ mạ hay cấy như trước. Lượng phân bón cũng giảm rất nhiều vì đã được bổ sung ngay từ đầu vụ. Trong suốt quá trình canh tác chỉ cần bổ sung thêm một lượng nhỏ kali”, ông Hương cho biết.

Điều khiến vị giám đốc hợp tác xã phấn khởi nhất không phải là những con số thống kê mà là sự thay đổi trong nhận thức của nông dân. “Ban đầu nhiều người còn nghi ngại. Nhưng khi thấy ruộng phát triển tốt, chi phí giảm mà năng suất vẫn cao thì bà con đều mong muốn được mở rộng mô hình trên toàn cánh đồng”, ông Hương nói.

Ông Nguyễn Văn Khiên, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân An, cho biết, vụ Xuân năm nay địa phương đạt năng suất bình quân từ 72 - 75 tạ/ha, cao hơn mặt bằng chung của thành phố. Hiệu quả từ mô hình phát thải thấp đang tạo thêm niềm tin để nông dân mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất. “Người dân ngày càng quan tâm đến những giải pháp giúp giảm chi phí đầu vào nhưng vẫn bảo đảm năng suất. Đây là yếu tố rất quan trọng trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp còn nhiều biến động”, ông Khiên nhận định.

Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, kết quả gặt điểm tại mô hình cho thấy năng suất đạt khoảng 9 tấn/ha, cao hơn từ 30 - 40% so với năng suất bình quân của thành phố. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương nghiên cứu mở rộng mô hình trong thời gian tới.

Hướng tới thương hiệu gạo Việt xanh trên thị trường toàn cầu

Tuy nhiên, câu chuyện phía sau mô hình không chỉ dừng lại ở năng suất hay lợi nhuận của từng vụ sản xuất. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Ralph Bean, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cho hay, lúa gạo có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực toàn cầu. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới và là đối tác tin cậy trong bảo đảm nguồn cung lương thực cho thị trường quốc tế. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên được lựa chọn triển khai các hoạt động của dự án trong số bốn nước tham gia.

“Mục tiêu của dự án không chỉ là giúp nông dân giảm lượng phân bón sử dụng mà còn hướng tới một nền sản xuất lúa hiệu quả hơn, có khả năng thích ứng tốt hơn trước biến động của thị trường và biến đổi khí hậu”, ông Ralph Bean nói.

Sau vụ xuân gieo sạ bằng công nghệ mới, nhiều cánh đồng miền Bắc cho năng suất tăng tới 30%, chi phí giảm mạnh và lợi nhuận cao gấp nhiều lần cách làm cũ. Ảnh: Phương Nam

Sau vụ xuân gieo sạ bằng công nghệ mới, nhiều cánh đồng miền Bắc cho năng suất tăng tới 30%, chi phí giảm mạnh và lợi nhuận cao gấp nhiều lần cách làm cũ. Ảnh: Phương Nam

Trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu đang siết chặt các tiêu chuẩn về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và dấu chân carbon, sản xuất lúa phát thải thấp đang trở thành yêu cầu tất yếu nếu Việt Nam muốn nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế. TS. Jongsoo Shin, Giám đốc khu vực châu Á của IRRI cho rằng, mỗi ha lúa được chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính mà còn giúp nâng cao thu nhập cho người dân.

Dù hiệu quả đã được chứng minh, thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là mở rộng mô hình trên quy mô lớn. TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhận định, những kết quả thu được cho thấy đây không còn là mô hình trình diễn đơn thuần mà đã trở thành một gói kỹ thuật hoàn chỉnh có thể áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, để nhân rộng thành công, yếu tố quyết định nằm ở việc tổ chức lại sản xuất.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam chia sẻ, sản xuất lúa giảm phát thải phải được triển khai trên phạm vi cả nước chứ không chỉ ở Đồng bằng sông Cửu Long hay Đồng bằng sông Hồng. Theo ông Tùng, đất đai Việt Nam vẫn còn manh mún, nhưng nếu tập hợp được nông dân trong các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác thì những thửa ruộng nhỏ có thể hình thành các vùng nguyên liệu lớn, đủ điều kiện áp dụng cơ giới hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và liên kết tiêu thụ. “Hợp tác xã chính là chìa khóa để mở rộng mô hình phát thải thấp. Nếu không tổ chức được nông dân, chúng ta sẽ rất khó mở rộng quy mô sản xuất như mong muốn”, ông Tùng nhấn mạnh.

Từ những cánh đồng thí điểm ở Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình, một hướng đi mới của ngành lúa gạo đang dần hiện rõ. Đó là quá trình chuyển đổi từ tư duy sản xuất truyền thống sang tư duy kinh tế nông nghiệp xanh, phát thải thấp và có trách nhiệm với môi trường. Trong hành trình ấy, mục tiêu không chỉ là giữ vững vị thế cường quốc xuất khẩu gạo, mà còn xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam xanh hơn, bền vững hơn và có giá trị cao hơn trên thị trường toàn cầu.

Trong bối cảnh an ninh lương thực toàn cầu đứng trước nhiều thách thức do biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe, mô hình sản xuất lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Hồng mở ra hướng đi để xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam xanh, bền vững và có trách nhiệm với môi trường.

Nguyễn Hạnh
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy