Trang thông tin điện tử tổng hợp
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường liên kết để phát triển khu, cụm công nghiệp sinh thái

Tăng cường liên kết, hoàn thiện tiêu chí sinh thái và thúc đẩy thực hành ESG là giải pháp quan trọng để phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp xanh, bền vững.

Sáng 6/11, Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách Công Thương tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy phát triển mô hình và liên kết khu công nghiệp - cụm công nghiệp sinh thái tại Việt Nam” gồm các cơ quan quản lý, chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp đã trao đổi về định hướng phát triển mô hình khu công nghiệp, cụm công nghiệp sinh thái. Trong đó, tăng cường liên kết, hoàn thiện cơ chế chính sách và ứng dụng công nghệ xanh được xác định là những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.

Toàn cảnh Hội thảo “Thúc đẩy phát triển mô hình và liên kết khu công nghiệp - cụm công nghiệp sinh thái tại Việt Nam

Toàn cảnh Hội thảo “Thúc đẩy phát triển mô hình và liên kết khu công nghiệp - cụm công nghiệp sinh thái tại Việt Nam

Hoàn thiện tiêu chí, thúc đẩy liên kết sinh thái

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho biết, hội thảo tập trung lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo mục tiêu và bộ tiêu chí đánh giá cụm công nghiệp sinh thái. Đồng thời, đặt vấn đề phát triển trong mối liên kết với khu công nghiệp sinh thái.

Bên cạnh hoàn thiện tiêu chí, hội thảo cũng trao đổi về định hướng phát triển ngành công nghiệp môi trường và kết nối, giới thiệu các giải pháp công nghệ xanh như điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng, cơ chế mua bán điện trực tiếp. “Chúng tôi mong muốn các đại biểu tập trung vào những nội dung cần giải quyết, trao đổi thẳng thắn những vấn đề còn vướng mắc để cùng thống nhất quan điểm phát triển chung”, ông Nguyễn Văn Hội nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương phát biểu khai mạc Hội thảo

Ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương phát biểu khai mạc Hội thảo

Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, khu công nghiệp và cụm công nghiệp không chỉ đóng vai trò thu hút đầu tư, phát triển sản xuất mà còn cần chuyển đổi để nâng cao giá trị gia tăng, tăng tỷ lệ tự chủ của công nghiệp Việt Nam và thúc đẩy các chuỗi ngành công nghiệp phát triển bền vững.

Phân tích yêu cầu chuyển đổi từ góc độ chính sách, ThS. Ngô Đức Thanh, Phó Trưởng phòng Năng lượng Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách Công Thương cho rằng, áp lực xanh hóa công nghiệp ngày càng gia tăng khi các quy định như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EU) và yêu cầu kiểm kê phát thải từ các tập đoàn đa quốc gia tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thực tế này đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi phương thức vận hành, thay vì đầu tư riêng lẻ cho năng lượng và xử lý môi trường. Việc thúc đẩy cộng sinh công nghiệp, sử dụng chung hạ tầng, tối ưu tài nguyên, năng lượng và tuần hoàn nguyên liệu giữa các doanh nghiệp sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Theo số liệu được trình bày tại hội thảo, cả nước hiện có khoảng 447 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 324 khu đang hoạt động. Tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 95,37%; 100% đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục. Hiện, có 10 khu công nghiệp đang thực hiện chuyển đổi và 2 khu công nghiệp mới phát triển theo mô hình sinh thái. Trong khi đó, cả nước có khoảng 725 cụm công nghiệp đang hoạt động, nhưng mới có 416 cụm được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, tương đương 57,4%. Đáng chú ý, chỉ 281 cụm có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, chiếm khoảng 38%.

Sự chênh lệch này cho thấy, hạ tầng môi trường tại các cụm công nghiệp vẫn là vấn đề cần được quan tâm, nhất là trong điều kiện nguồn lực đầu tư và năng lực quản lý còn hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, dự thảo bộ tiêu chí cụm công nghiệp sinh thái được xây dựng với 5 nhóm nội dung, gồm: quy hoạch phát triển hạ tầng; hiệu quả tài nguyên và năng lượng; quản lý, xử lý chất thải; kết nối chuỗi giá trị và cộng sinh công nghiệp; quản lý xã hội và tuân thủ pháp luật. Các nhóm tiêu chí được cụ thể hóa thành khoảng 17 tiêu chí thành phần, đánh giá theo thang điểm 100.

Dự thảo cũng định hướng ba cấp độ phát triển, gồm cụm công nghiệp chuyển đổi sang thân thiện môi trường, cụm công nghiệp sinh thái và cụm công nghiệp sinh thái hiện đại. Cách tiếp cận này nhằm tạo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế, tránh áp dụng những yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng của doanh nghiệp.

Ông Ngô Đức Thanh cho rằng, tiêu chí cần tính đến đặc điểm vùng miền, quy mô doanh nghiệp và điều kiện hạ tầng. Chẳng hạn, miền Trung có lợi thế về năng lượng mặt trời, trong khi miền Bắc có những hạn chế nhất định. Vì vậy, việc quy định cứng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo có thể gây khó khăn trong quá trình thực hiện.

Về định hướng triển khai, giai đoạn 2026 - 2027 dự kiến ban hành thông tư về bộ tiêu chí cụm công nghiệp sinh thái; giai đoạn 2028 - 2029 xây dựng hệ thống dữ liệu về phát thải, phụ phẩm và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Giai đoạn 2030 - 2035 hướng tới mục tiêu các cụm công nghiệp đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn môi trường theo định hướng phát triển mới.

ESG và công nghệ xanh mở rộng dư địa chuyển đổi

Bên cạnh hoàn thiện tiêu chí và cơ chế quản lý, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp sinh thái còn đòi hỏi sự tham gia của ngành công nghiệp môi trường, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ. TS. Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam cho rằng, phát triển khu công nghiệp sinh thái không thể tách rời việc nâng cao năng lực ngành công nghiệp môi trường. Đây là lĩnh vực cung cấp công nghệ, thiết bị và giải pháp xử lý chất thải, khí thải, nước thải phục vụ sản xuất xanh.

Theo ông Lượng, các yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường cũng mở ra cơ hội phát triển thị trường công nghệ, thiết bị và dịch vụ môi trường trong nước. Tuy nhiên, để khai thác được dư địa này, cần quan tâm đến cơ chế huy động nguồn lực tài chính, từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương đến các quỹ bảo vệ môi trường, quỹ khoa học và công nghệ và nguồn tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp.

Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam kiến nghị cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong triển khai Quyết định số 1894 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030, đồng thời xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ phù hợp để doanh nghiệp công nghiệp môi trường tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi xanh.

Từ góc độ doanh nghiệp nhỏ và vừa, TS. Nguyễn Thị Bích Hường, Trưởng ban Phát triển bền vững SMEs Việt Nam cho rằng, liên kết giữa khu công nghiệp, cụm công nghiệp với các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn là mắt xích cần được tăng cường trong quá trình phát triển chuỗi cung ứng. “Thúc đẩy liên kết với khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang là mảnh ghép mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa chúng tôi đang thiếu”, bà Hường chia sẻ.

TS. Nguyễn Thị Bích Hường trao đổi về thực hành ESG và tăng cường liên kết cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Thị Bích Hường trao đổi về thực hành ESG và tăng cường liên kết cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo bà Hường, việc thực hành ESG (môi trường, xã hội và quản trị) cần phù hợp với đặc điểm, quy mô và năng lực của từng doanh nghiệp, thay vì áp dụng một bộ tiêu chí giống nhau. Doanh nghiệp cần xác định những vấn đề trọng yếu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để lựa chọn nội dung ưu tiên, từ xử lý nước thải, sử dụng năng lượng đến kiểm soát khí thải.

Đối với chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, việc triển khai ESG cần bắt đầu từ đánh giá hiện trạng, xác định phạm vi thực hiện và xây dựng lộ trình cụ thể.

Một trong những khó khăn hiện nay là doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều hệ thống báo cáo ESG khác nhau theo yêu cầu của từng đối tác, nhà mua hàng và tổ chức tín dụng. Do đó, cần hướng tới thống nhất dữ liệu đầu vào, đồng thời bảo đảm khả năng chuyển đổi để đáp ứng các yêu cầu báo cáo khác nhau.

Theo bà Hường, ESG không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn có thể mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh. Tuy nhiên, để tạo được niềm tin với nhà đầu tư và tổ chức tín dụng, doanh nghiệp cần xây dựng cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, có đánh giá và xác nhận độc lập. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có cơ chế chuyển tiếp phù hợp để từng bước hoàn thiện năng lực thực hành ESG.

Về phía doanh nghiệp công nghệ, ông Huỳnh Phước Cương, Tổng Giám đốc Gree Việt Nam đề cập đến giải pháp tối ưu năng lượng trong hệ thống làm mát tại khu công nghiệp. Theo ông, doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả vận hành thực tế thay vì chỉ dựa vào thông số thiết bị do nhà sản xuất công bố. “Thông thường cứ nhìn trên catalogue rồi làm, nhưng thực tế khi tham gia vận hành mới thấy hai yếu tố này khác nhau rất nhiều. Vì vậy, cần quan tâm hơn đến hiệu quả thực tế của thiết bị”, ông Cương cho biết.

Đại diện Gree Việt Nam cho rằng, hiệu quả năng lượng cần được tính toán ngay từ khâu thiết kế, lựa chọn thiết bị đến quy trình vận hành và bảo trì. Một số giải pháp được giới thiệu tại hội thảo gồm hệ thống làm mát vận hành theo nhu cầu thực tế, lựa chọn máy làm lạnh phù hợp, thu hồi nhiệt thải để tái sử dụng và kết hợp với nguồn điện mặt trời.

Ông Huỳnh Phước Cương giới thiệu các giải pháp tối ưu năng lượng trong hệ thống làm mát tại khu công nghiệp.

Ông Huỳnh Phước Cương giới thiệu các giải pháp tối ưu năng lượng trong hệ thống làm mát tại khu công nghiệp.

Việc kết nối dữ liệu năng lượng giữa các doanh nghiệp cũng được xem là hướng đi cần nghiên cứu. Thay vì mỗi đơn vị đầu tư, vận hành hệ thống riêng lẻ, các doanh nghiệp có thể tăng cường sử dụng chung hạ tầng, chia sẻ nguồn năng lượng và tối ưu công suất theo nhu cầu thực tế.

Những trao đổi tại hội thảo cho thấy, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp sinh thái không chỉ dừng lại ở đầu tư hệ thống xử lý chất thải hay đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường. Quan trọng hơn là hình thành phương thức tổ chức sản xuất có tính liên kết, trong đó hạ tầng, năng lượng, nguyên liệu, dữ liệu và công nghệ được khai thác hiệu quả.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, địa phương, chủ đầu tư hạ tầng và cộng đồng doanh nghiệp. Đây là nền tảng thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dư địa phát triển bền vững cho công nghiệp Việt Nam.

Nguyễn Hương

Tin liên quan

Đối tác tin cậy