Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề xuất dùng chung hạ tầng viễn thông để tiết kiệm nguồn lực xã hội

Đại biểu Quốc hội đề xuất luật hóa nguyên tắc dùng chung hạ tầng viễn thông, ưu tiên vùng xa, biên giới; tránh đầu tư trùng lặp và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.

Thúc đẩy chia sẻ hạ tầng viễn thông

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng 13/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội tiến hành thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ; và cho ý kiến về đề nghị phê chuẩn hiệp định liên quan đến Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

Đóng góp ý kiến hoàn thiện khoản 3 Điều 2 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các khoản 2, 3 và 4 Điều 47 Luật Viễn thông, đại biểu Sùng A Lềnh - Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Lào Cai đánh giá cao việc dự thảo Luật lần này đã bổ sung cơ chế sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông. Đây là vấn đề cần thiết, vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, vừa góp phần khai thác hiệu quả hạ tầng đã được đầu tư. Từ thực tiễn địa phương, đại biểu cho rằng, cần nhìn nhận vấn đề chia sẻ hạ tầng rộng hơn, từ góc độ sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.

Đại biểu cho biết, đối với địa bàn miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn và duy trì vận hành lớn, trong khi hiệu quả kinh doanh thấp. Mỗi doanh nghiệp đều phải đầu tư một hệ thống riêng tại cùng một khu vực, vừa tăng chi phí đầu tư xã hội, vừa khó mở rộng nhanh vùng phủ sóng.

Tuy nhiên, dự thảo Luật hiện đang tập trung xử lý cơ chế chia sẻ hạ tầng phục vụ quốc phòng, an ninh nhưng chưa thể hiện rõ một nguyên tắc chung để thúc đẩy chia sẻ hạ tầng giữa các doanh nghiệp trong những địa bàn mà đầu tư riêng lẻ không hiệu quả.

Đại biểu Sùng A Lềnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai.

Đại biểu Sùng A Lềnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai.

Báo cáo của cơ quan thẩm tra cũng đề nghị tiếp tục làm rõ loại hạ tầng được chia sẻ, thẩm quyền quyết định, cơ chế tài chính, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, cũng như xử lý khi chấm dứt nhu cầu sử dụng chung. Vì vậy, đại biểu Sùng A Lềnh đề nghị, bên cạnh cơ chế đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, cần xác định ngay trong Điều 47 nguyên tắc khuyến khích và tạo điều kiện sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông, đặc biệt tại các khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và địa bàn có hiệu quả kinh doanh thấp.

Cùng với đó, đề xuất giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế thực hiện, trong đó có nguyên tắc xác định giá thuê, trách nhiệm đầu tư, vận hành, bảo trì, quyền và nghĩa vụ của các bên và cơ chế xử lý khi doanh nghiệp không thỏa thuận được phương án chia sẻ. Các quy định này vừa đảm bảo quyền tài sản và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, vừa tạo công cụ để tránh đầu tư trùng lặp, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực xã hội.

Trong khi đó, đối với dự án Luật Tần số vô tuyến điện, đại biểu Tào Đức Thắng - Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh tán thành nội dung tại khoản 3 Điều 1 sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 4 Điều 18 về quy định tỷ lệ cấp băng tần cụ thể cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh để phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Đại biểu Tào Đức Thắng cho biết, đây là cơ chế đặc thù, nhất là khi phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đồng thời việc nâng thời hạn cấp phép ban đầu lên 5 năm là phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông cần nguồn lực lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài. Tuy nhiên, đây là ngoại lệ đối với băng tần theo nguyên tắc thông thường được cấp thông qua đấu giá, nên điều kiện áp dụng phải được quy định rõ, bảo đảm minh bạch và cạnh tranh bình đẳng.

Tránh lãng phí tài nguyên tần số

Góp ý hoàn thiện các nội dung khác của dự thảo Luật Tần số vô tuyến điện, đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH thành phố Huế cũng đề nghị làm rõ cơ chế xử lý khi giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng bị thu hồi, để bảo đảm quản lý liên thông nhưng không gây lãng phí tài nguyên tần số.

Cụ thể, dự thảo sửa khoản 2 Điều 20, khoản 4 Điều 20a, điểm c khoản 1 Điều 22 và điểm d khoản 1 Điều 23 Luật Tần số vô tuyến điện theo hướng: Gắn quyền sử dụng băng tần với giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng. Đặc biệt điểm d khoản 1 Điều 23 quy định thu hồi giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện khi giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng tương ứng bị thu hồi.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH thành phố Huế.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH thành phố Huế.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đồng tình với nguyên tắc liên thông này bởi quyền sử dụng băng tần không thể tách rời khỏi năng lực và tư cách pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. Việc gắn hai loại giấy phép là cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và quản lý hiệu quả tài nguyên tần số.

Tuy nhiên, dự thảo hiện mới xác định căn cứ thu hồi, chưa quy định đầy đủ cơ chế xử lý sau khi căn cứ thu hồi phát sinh. Vì vậy, dự thảo Luật cần làm rõ trình tự, thời điểm thu hồi giấy phép tần số, trách nhiệm của doanh nghiệp trong thời gian chuyển tiếp đối với người sử dụng dịch vụ, hạ tầng thiết bị và các nghĩa vụ tài chính. Đồng thời, xác định cơ chế xử lý tái phân bổ tài nguyên tần số sau thu hồi, tránh để tài nguyên bị bỏ không, lãng phí và bảo đảm khả năng sử dụng lại nhanh chóng, minh bạch.

Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ trong văn bản quy định chi tiết và tổ chức thi hành xây dựng một số cơ chế xử lý thống nhất, trong đó xác định rõ thời điểm, trình tự và trách nhiệm của các cơ quan; trách nhiệm của doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển tiếp; cơ chế xử lý và tái phân bổ tài nguyên tần số sau thu hồi; sự thống nhất giữa pháp luật về viễn thông và pháp luật về tần số vô tuyến điện nhằm hạn chế tranh chấp...

"Cần quán triệt nguyên tắc: liên thông về điều kiện pháp lý nhưng minh bạch về trình tự xử lý, thu hồi quyền phải đi kèm với cơ chế chuyển tiếp và tái phân bổ tài nguyên hợp lý. Qua đó, vừa bảo đảm quản lý nhà nước, vừa duy trì hiệu quả sử dụng tài nguyên số, tài nguyên tần số - tài nguyên quốc gia hữu hạn", đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề xuất.

Đối với Luật Tần số vô tuyến điện, dự thảo Luật cắt giảm các điều kiện cấp giấy phép không còn cần thiết hoặc đã được điều chỉnh tại các quy định khác của pháp luật; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; bãi bỏ các quy định về đào tạo vô tuyến điện viên nghiệp dư, đồng thời phân lại thẩm quyền quản lý việc đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên hàng hải sang bộ quản lý chuyên ngành.

Đối với Luật Viễn thông, dự thảo Luật bãi bỏ, đơn giản hoá một số điều kiện cấp phép viễn thông; bãi bỏ điều kiện hoạt động đối với dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền, đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và chuyển sang cơ chế hậu kiểm.

Đối với Luật Giao dịch điện tử, dự thảo Luật bãi bỏ thủ tục hành chính thay đổi nội dung giấy phép và thủ tục gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Hoàng Hòa
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy